Khám phá miền Bắc

Khu di tích lịch sử Đền Hùng – Những nét đẹp có thể bạn chưa biết

Theo sự tích đền Hùng, đây là nơi người con trưởng của Lạc Long Quân và Âu Cơ lên làm vua lấy hiệu Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang.

Đền Hùng Phú Thọ là quần thể di tích đền chùa, thờ phụng các Vua Hùng và tôn thất, nằm từ chân đến đỉnh ngọn núi Nghĩa Lĩnh cao 175 mét, bao quanh là khu rừng cấm linh thiêng, thuộc xã Hy Cương, Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Đền Hùng được xây vào thế kỷ 15, là khu di tích quần thể thờ cúng với kiến trúc thâm nghiêm.

Đền Thượng ở trên đỉnh núi Hùng. Tương truyền rằng thời Hùng Vương, Vua Hùng thường lên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh để tiến hành nghi lễ tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp thờ trời đất, thờ thần lúa, cầu mong mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt, nhân khang vật thịnh.

Đền Thượng đến thế kỷ XV được xây dựng quy mô, vào thời Nguyễn triều đình cấp tiền, cử quan về giám sát việc đại trùng tu. Hiện nay đền có kiến trúc kiểu chữ Vương, được xây dựng 4 cấp: Nhà chuông trống, Đại bái, Tiền tế và Hậu cung.

Đây là nơi các vua Hùng làm lễ tế Trời đất, thần Núi và thần Lúa; cũng là nơi Thục Phán sau khi được vua Hùng thứ 18 truyền ngôi, dựng cột đá thề sẽ trông nom ngôi đền và giữ gìn cơ nghiệp vua Hùng.

Ngôi mộ vua Hùng Vương đời thứ 6, tọa lạc ở phía đông đền Thượng, mặt quay theo hướng Đông Nam. Xưa kia, đây là một mộ đất, đến thời vua Tự Đức năm thứ 27 (1870) đã cho xây mộ dựng lăng. Tiếp thời vua Khải Định, tháng 7 năm 1922 lăng mộ được trùng tu lại.

Lăng hình vuông, cột liền tường, có đao cong 8 góc, tạo thành 2 tầng mái. Tầng dưới 4 góc đắp 4 con rồng tư thế bò, tầng trên đắp rồng uốn ngược, đỉnh lăng đắp hình “quả ngọc” theo tích “cửu long tranh châu”. Mái đắp ngói ống, cổ diêm, 3 phía đều đắp mặt hổ phù.

Trong lăng có mộ Vua Hùng. Mộ xây hình hộp chữ nhật dài 1,3m, rộng 1,8m, cao 1,0m. Mộ có mái mui luyện. Phía trong lăng có bia đá ghi: Biểu chính (lăng chính). Phía trên ba mặt lăng đều có đề: Hùng Vương lăng (Lăng Hùng Vương).

Cổng Đền Giếng được xây vào thế kỷ XVIII, kiểu dáng gần giống cổng chính nhưng nhỏ và thấp hơn. Cổng xây theo kiểu kiến trúc 2 tầng 8 mái. Tầng dưới, giữa có một cửa xây kiểu vòm, hai bên có hai cột trụ trên lắp nghê chầu.

Đền theo hướng Đông Nam, kiến trúc kiểu chữ công, gồm nhà tiền bái (3 gian), hậu cung (3 gian), 1 chuôi vồ và 2 nhà oản (4 gian), có phương đình nối tiền bái với hậu cung. Đền được xây dựng lên trên giếng nên hiện nay giếng ở bên trong hậu cung bốn mùa nước trong mát, không bao giờ cạn.

Tương truyền, đền Giếng là nơi hai công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa (con gái của Vua Hùng thứ 18) soi gương, vấn tóc khi theo cha đi kinh lý qua vùng này. Hai bà có công dạy dân trồng lúa nước và trị thuỷ nên được nhân dân lập đền thờ phụng muôn đời.

Trước khi tới Đền Thượng, Đền Giếng, bạn sẽ được tham quan Đền Trung, Đền Hạ. Tương truyền nơi đây, Mẹ u Cơ sinh ra bọc trăm trứng, sau nở thành 100 người con trai, nguồn gốc “đồng bào” (cùng bọc) được bắt nguồn từ đây.

Từ đền Hạ leo thêm 168 bậc nữa là tới Ðền Trung ở lưng chừng núi có tên chữ là “Hùng Vương Tổ Miếu” mà theo huyền sử là nơi Vua Hùng thường cùng các Lạc hầu, Lạc tướng họp bàn việc nước và ngắm cảnh núi non kỳ thú.

Ngày 19/9/1954, Đền Hùng chính là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Ðại đoàn quân Tiên Phong và giao nhiệm vụ cho đơn vị tiếp quản Thủ đô sau chiến thắng Ðiện Biên Phủ và căn dặn: Các Vua Hùng đã có công dựng nước/Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.

Khu di tích lịch sử Ðền Hùng đang tiếp tục được đầu tư xây dựng với nhiều hạng mục công trình tương xứng vị thế của một vùng đất Tổ, nơi thờ cúng các Vua Hùng và những bậc tiền hiền dựng nước, điểm hành hương của những người con đất Việt, cuốn hút và linh thiêng.

Theo Toàn Dũng Media / VOV.vn

Tags

Viết bình luận

avatar
  Theo dõi  
Thông báo của
Back to top button